Ô tô nhập khẩu vào Việt Nam 9 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 193.000 xe, trong đó Indonesia, Trung Quốc và Thái Lan chiếm trên 94% tổng lượng nhập.

Thống kê sơ bộ từ Tổng cục Hải quan cho thấy hoạt động nhập khẩu ô tô nguyên chiếc vào Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2026 ghi nhận mức tăng trưởng rõ rệt, đạt tổng cộng 193.220 xe, tăng gần 25% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, dòng xe chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống đạt 134.504 chiếc, tăng 14,9%, còn ô tô vận tải đạt 34.645 chiếc, tăng đột biến 73,3%. Tổng lượng của hai nhóm phương tiện này đạt 169.149 xe, chiếm khoảng 87,5% tổng lượng xe nhập khẩu về nước. Đáng chú ý, cơ cấu nguồn gốc phương tiện tiếp tục tập trung cao độ khi ba thị trường gồm Indonesia, Trung Quốc và Thái Lan đóng góp tổng cộng 182.545 xe, chiếm hơn 94% tổng nguồn cung xe nhập khẩu vào Việt Nam.

Indonesia giữ vững ngôi đầu và đà tăng tốc từ xe Trung Quốc

Indonesia tiếp tục là quốc gia xuất khẩu nhiều ô tô nhất vào thị trường Việt Nam sau 3 quý đầu năm 2026 với 80.620 xe, tăng trưởng 35,7% so với mức 59.407 xe của cùng kỳ năm trước. Trung Quốc vượt qua Thái Lan để vươn lên vị trí thứ hai với 50.986 xe, ghi nhận mức tăng mạnh tới 48% so với con số 34.431 xe của cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, Thái Lan tụt xuống vị trí thứ ba với sản lượng đạt khoảng 50.000 xe, trở thành một trong số ít thị trường có dấu hiệu chững lại và nhỉnh giảm nhẹ so với mức 51.615 xe ghi nhận cùng kỳ năm ngoái.

Các thị trường còn lại chỉ đóng góp sản lượng khiêm tốn từ vài trăm đến vài nghìn xe. Cụ thể, Nhật Bản xuất sang Việt Nam 4.069 xe, nhỉnh hơn so với cùng kỳ. Nga đạt 1.032 xe, Đức ghi nhận 859 xe, Ấn Độ đạt 827 xe với mức tăng trưởng khá rõ rệt từ mức nền thấp năm ngoái, và Mỹ đạt 472 xe. Ở nhóm cuối bảng xếp hạng, thị trường Anh đạt 260 xe, trong khi lượng xe từ Hàn Quốc ghi nhận mức không đáng kể sau 9 tháng, giảm mạnh so với mức 380 xe của cùng kỳ năm 2025.

Dịch chuyển chuỗi cung ứng khu vực và giá trị bình quân phương tiện

Trước năm 2024, xe nhập khẩu từ Thái Lan và Indonesia luôn duy trì thế cạnh tranh bám đuổi sít sao về số lượng. Tuy nhiên, việc một số hãng ô tô Nhật Bản đóng cửa nhà máy và dịch chuyển các trung tâm sản xuất từ Thái Lan sang Indonesia đã khiến cơ cấu xuất xứ xe nhập vào Việt Nam thay đổi theo hướng có lợi cho quốc gia vạn đảo.

Bên cạnh đó, việc Trung Quốc vươn lên vị trí thứ hai với tốc độ tăng trưởng 48% xuất phát từ sự bùng nổ nhu cầu ở phân khúc xe thương mại phục vụ các dự án hạ tầng giao thông quy mô lớn, kết hợp cùng làn sóng đổ bộ liên tục của các thương hiệu xe con Trung Quốc. Thống kê về giá trị cho thấy sự phân hóa sâu sắc theo nguồn gốc: xe có xuất xứ từ Indonesia có giá trị bình quân khoảng 14.400 USD mỗi xe, xe từ Thái Lan đạt khoảng 20.800 USD mỗi xe, trong khi xe nhập khẩu từ Trung Quốc đạt mức giá trị trung bình lên tới 34.800 USD mỗi xe do cơ cấu xe thương mại và tải nặng chiếm tỷ trọng lớn.

Tổng kim ngạch chi trả cho việc nhập khẩu ô tô nguyên chiếc của các doanh nghiệp trong nước sau 9 tháng đạt khoảng 4,46 tỷ USD, tăng gần 31% so với cùng kỳ năm 2025. Đối với mặt hàng linh kiện và phụ tùng ô tô phục vụ lắp ráp, giá trị nhập khẩu đạt 5,66 tỷ USD, tăng 37,6%. Tính chung, tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu của nhóm hàng ô tô nguyên chiếc và linh kiện phụ tùng đạt 10,13 tỷ USD, tương ứng mức tăng 34,5% và tăng thêm khoảng 2,6 tỷ USD so với cùng kỳ năm ngoái.

Thị phần xe lắp ráp trong nước áp đảo xe nhập khẩu

Bên cạnh đà tăng của nguồn xe nhập khẩu, dữ liệu tổng hợp từ VAMA, TC Motor và VinFast phản ánh quy mô tiêu thụ chung của toàn thị trường ô tô Việt Nam đạt khoảng 484.448 xe sau 9 tháng năm 2026, tăng khoảng 26,8% so với mức 381.955 xe của cùng kỳ năm 2025.

Trong cơ cấu tiêu thụ, dòng xe sản xuất và lắp ráp trong nước (CKD) tiếp tục giữ vai trò chủ đạo với doanh số đạt 321.687 xe, tăng khoảng 29,7% so với mức 248.064 xe của năm 2025, được dẫn dắt bởi các thương hiệu lớn như VinFast, Hyundai, Kia, Mazda và Toyota. Lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc (CBU) bán ra thị trường, chủ yếu đến từ Mitsubishi, Suzuki và các hãng xe Trung Quốc, đạt 162.761 xe, tăng 21,6% so với mức 133.891 xe cùng kỳ.

Hiện tại, xe lắp ráp trong nước chiếm tỷ trọng khoảng 66,4% tổng doanh số bán ra toàn ngành, nhích nhẹ so với mức 64,9% của năm 2025, trong khi xe nhập khẩu chiếm khoảng 33,6%. Tốc độ tăng trưởng sản lượng của xe lắp ráp nội địa đang nhanh hơn xe nhập khẩu nguyên chiếc, đưa tỷ lệ tiêu thụ xe nội địa đạt mức gần gấp đôi so với xe nhập khẩu trong bối cảnh thị trường ô tô Việt Nam tiếp tục mở rộng quy mô tiêu dùng vào giai đoạn kinh doanh cao điểm cuối năm.