Có một câu chuyện về Henry Ford trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1920-1921 mà mình thấy khá thú vị, bởi những gì cụ Ford phải đối mặt khi ấy phản ánh rất rõ cách một chu kỳ kinh tế đảo chiều và vì sao có những doanh nghiệp tưởng như đang rất khỏe mạnh lại bất ngờ rơi vào khó khăn về thanh khoản.

Thế chiến thứ nhất kết thúc vào năm 1918, nhưng cơn sốt kinh tế do chiến tranh vẫn kéo dài thêm hơn một năm sau đó. Tiền và tín dụng đang trong đà bơm ra dồi dào khiến sức mua tăng mạnh, giá cả liên tục leo thang và tâm lý chung của thị trường là phải mua càng sớm càng tốt, bởi ngày mai có thể còn đắt hơn hôm nay. Một trạng thái lạm phát tự thúc đẩy.

Henry Ford kể rằng hồi đó khi xuất hiện tin đồn thiếu đường, những bà nội trợ trước đây cả đời chưa từng mua quá 10 pound đường mỗi lần lại đổ xô đi mua tới 200 pound để tích trữ.

Trong một môi trường như vậy, không chỉ người tiêu dùng mà cả doanh nghiệp cũng bị cuốn vào vòng xoáy tăng giá và tích trữ hàng hóa. Nguyên vật liệu ngày càng đắt đỏ, tiền lương tăng cao, các nhà cung cấp không muốn giảm giá vì ai cũng tin rằng hàng hóa sẽ còn tiếp tục tăng.

Và chính trong giai đoạn nền kinh tế đang rất nóng hậu chiến tranh, gia đình Ford lại thực hiện một quyết định tài chính quan trọng.

Năm 1919, do những bất đồng với các cổ đông thiểu số gia đình Henry Ford đã mua lại toàn bộ 41,5% cổ phần nắm quyền sở hữu hoàn toàn công ty. Để làm được, cụ Ford phải vay tới 70 triệu USD một khoản tiền rất lớn vào thời điểm đó.

Nó giúp gia đình Ford có toàn quyền quyết định nhưng đồng thời cũng khiến công ty mang một khoản nợ đáng kể ngay trong giai đoạn kinh tế đăng cao điểm của bơm tiền và lạm phát.

Đến đầu năm 1920, những dấu hiệu đầu tiên của sự đảo chiều bắt đầu xuất hiện.

Một số doanh nghiệp phát triển mạnh nhờ chiến tranh đóng cửa. Người tiêu dùng bắt đầu dè dặt với lạm phát cao và không còn mua sắm vội vàng như trước. Thị trường dần chuyển từ trạng thái khan hiếm hàng hóa sang khan hiếm người mua, tất cả đều chờ đợi xem giá cả mọi thứ còn tăng tiếp không.

Lúc đó xe Ford vẫn bán khá tốt, nhưng Henry Ford hiểu rằng nếu sức mua của nền kinh tế đang suy yếu, sớm muộn gì ngành ô tô cũng sẽ chịu ảnh hưởng.

Ông muốn giảm giá xe phù hợp với nhu cầu. Vấn đề là chi phí sản xuất vẫn còn rất cao, bởi nguyên vật liệu đang được mua trong giai đoạn giá cả tăng nóng.

Đến tháng 6/1920, doanh số xe Ford bắt đầu giảm dần dần từng tháng.

Tháng 9/1920, Ford đưa ra một quyết định khiến cả ngành ô tô bất ngờ: giảm giá mẫu xe touring từ 575 USD xuống còn 440 USD, tương đương mức giảm gần 24%.

Điều đáng nói là mức giá mới thậm chí còn thấp hơn giá vốn của những chiếc xe được sản xuất bằng nguyên liệu mua khi bong bóng giá cả thổi lên.

Có thể hiểu: Ford chấp nhận bán lỗ.

Quyết định này khiến nhiều doanh nghiệp cùng ngành chỉ trích ông là đang phá giá thị trường. Bởi phần lớn các nhà sản xuất khi ấy vẫn cố giữ giá bán và tin rằng thị trường ở giá cao là sự hợp lý bởi tất cả đều tăng giá, và họ sẽ bán được hàng tồn mà không cần lỗ.

Nhưng Ford lại nhìn vấn đề theo hướng ngược lại.

Theo ông, hàng hóa không bán được vẫn nằm trong kho, vốn tiếp tục bị mắc kẹt, chi phí lưu kho và lãi vay vẫn phát sinh, còn người tiêu dùng thì không có lý do để quay lại mua hàng.

Khi mặt bằng giá cả của nền kinh tế đang đảo chiều, việc cố giữ mức giá của chu kỳ trước không giúp doanh nghiệp tránh được thua lỗ. Đôi khi nó chỉ khiến khoản lỗ bị trì hoãn, trong khi chi phí tiếp tục tăng lên.

Đợt giảm giá đầu tiên giúp doanh số Ford phục hồi trong một thời gian ngắn, nhưng sau đó lại chững lại. Bởi khi thị trường đã bắt đầu tin rằng giá cả sẽ còn giảm, người mua có xu hướng tiếp tục chờ đợi thay vì xuống tiền ngay.

Ford hiểu rằng mình có thể sẽ phải giảm giá thêm một lần nữa.

Trong những tháng cuối năm 1920, ông vẫn duy trì sản xuất khoảng 100.000 chiếc xe mỗi tháng, dù lượng xe bán ra không theo kịp.

Mục đích của Ford là chuyển lượng nguyên vật liệu giá cao đang tồn kho thành xe thành phẩm, để sau khi xử lý xong lượng hàng này, công ty có thể bắt đầu một chu kỳ sản xuất mới với nguyên vật liệu được mua ở mặt bằng giá thấp hơn.

Đến tháng 12/1920, Ford quyết định đóng cửa nhà máy để kiểm kê và tổ chức lại hoạt động.

Nhưng đúng lúc đó, một vấn đề còn lớn hơn doanh số bắt đầu xuất hiện đó là áp lực thanh khoản.

Từ đầu tháng 1 đến giữa tháng 4/1921, Ford phải thanh toán tổng cộng khoảng 58 triệu USD bao gồm khoản nợ mua cổ phần, thuế và tiền thưởng cho công nhân.

Trong khi đó, lượng tiền mặt công ty có trong ngân hàng chỉ khoảng 20 triệu USD.

Như vậy, Ford đang thiếu tới 38 triệu USD để đáp ứng những nghĩa vụ thanh toán sắp đến hạn.

Thú vị khi chỉ một năm trước, đây vẫn là một trong những doanh nghiệp ô tô thành công nhất nước Mỹ. Họ có xe bán rất tốt, thương hiệu mạnh, nhà máy hoạt động với quy mô lớn. Nhưng khi chu kỳ kinh tế đảo chiều doanh nghiệp đối mặt với nguy cơ mất khả năng thanh toán chỉ vì dòng tiền không về kịp lúc các khoản nợ đến hạn.

Báo chí Mỹ khi ấy bắt đầu đồn đoán rằng Henry Ford sẽ phải tìm đến Phố Wall để vay tiền với các điều khoản nhượng lại cổ phần.

Đây chính là tình huống mà Ford không muốn rơi vào. Gia đình ông vừa phải vay một khoản tiền rất lớn để mua lại toàn bộ cổ phần và giành quyền tự chủ doanh nghiệp.

Ford quyết định từ chối đi vay và đóng cửa nhà máy gần sáu tuần. Trong khoảng thời gian đó, Ford tiến hành một cuộc cải tổ để loại bỏ những chi phí và hoạt động không thực sự cần thiết.

Một cuộc cắt bỏ mạnh mẽ các mảng kinh doanh phục vụ thời chiến, cắt giảm hoặc điều chuyển nhân công, tất cả đã giúp chi phí chung phân bổ trên mỗi chiếc xe giảm từ 146 USD xuống còn 93 USD.

Nhưng có lẽ hay nhất là cách Ford xử lý lượng vốn đang nằm trong hàng tồn kho và quá trình vận chuyển.

Ông mua một tuyến đường sắt để chủ động hơn trong hoạt động logistics, nhờ đó rút ngắn thời gian từ khi mua nguyên vật liệu đến khi giao xe cho đại lý từ 22 ngày xuống còn 14 ngày.

Chỉ riêng việc đẩy nhanh vòng quay này đã giúp Ford giải phóng khoảng 28 triệu USD vốn trước đó bị mắc kẹt trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa.

Bên cạnh đó, công ty còn thu tiền từ việc bán hàng giảm giá tồn kho, thu hồi công nợ và thanh lý một số trái phiếu chính phủ đang nắm giữ.

Kết quả là đến 4/1921, Ford đã có khoảng 87,3 triệu USD tiền mặt đủ để thanh toán các khoản nợ đến hạn và vẫn còn dư tiền.

Giờ đây công ty đã có thể giải quyết áp lực thanh khoản.

Nhà máy Ford bắt đầu gọi công nhân trở lại làm việc và từng bước khôi phục sản xuất toàn phần. Lần này, hoạt động sản xuất đã có lãi, bởi giá vốn đều đã ở mức thấp hơn đáng kể.

Ford sau này kể lại rằng mình đã chấp nhận bán lỗ sớm để tích trữ lại tiền mặt, quyết đoán không chấp nhận vay thêm 40 triệu USD và cải tổ mạnh mẽ hoạt động sản xuất đã giúp công ty thoát khỏi chi phí khổng lồ và tình trạng mất thanh khoản.

Theo tính toán của Ford, nếu không làm vậy có thể khiến giá xe cao hơn khoảng 100 USD, làm giảm sức cạnh tranh và khiến doanh số thấp hơn, quan trọng nhất là gia đình Ford có thể đã mất quyền tự quyết về tài chính vào tay người khác.

Câu chuyện này có ba điểm rất hay, không chỉ trong quản trị doanh nghiệp mà cả trong hoạt động đầu tư.

- Thứ nhất, khi lạm phát đảo chiều, chịu lỗ sớm với hàng tồn kho mua ở giá cao tốt hơn ôm chờ giá hồi. Người cố giữ giá vừa trả lãi cho hàng tồn, vừa mất thời gian làm ăn.

- Thứ hai, thanh khoản đôi khi quan trọng hơn cả lợi nhuận trên sổ sách, bởi nó quyết định khả năng giữ quyền chủ động khi khó khăn xuất hiện. Người thiếu tiền đúng lúc khó khăn phải đi vay theo điều kiện mới đáng sợ.

- Thứ ba, vay lớn ở đỉnh chu kỳ kể cả để củng cố quyền sở hữu gia đình, có thể thành điểm yếu khi chu kỳ đảo chiều. Khoản nợ năm 1919 suýt đẩy tâm huyết của gia đình Ford vào tay ngân hàng chỉ một năm sau.

Nguồn Henry Ford, My Life and Work (1922)

Tổng hợp và trình bày lại Trương Đắc Nguyên